Cách gọi của phụ nữ cổ đại và cách gọi tuổi tác của nam nữ

Áp phích gốc: Không ai biết Lượt xem: 150 Trả lời: 3 Đăng trong: 2012-07-28 20:14:28
【Cách gọi phụ nữ thời cổ】 Quý bà Có nguồn gốc từ 《Thơ Kinh》“厘尔女士”, Khổng Ứng Đạt chú giải: “女士, ám chỉ người phụ nữ mà có phẩm hạnh như nam nhân”, ví von rằng phụ nữ có hành vi và tài năng như nam giới, là cách gọi tôn trọng dành cho phụ nữ có học thức và có giáo dưỡng. Nữ lưu Trong chương 41 của 《Những truyện ngoài lề Nho gia》 ghi chép: “Xem ra cô ấy là một nữ lưu, lại có nhiều cảnh hào kiệt.” Đây là cách gọi chung phụ nữ thời xưa. Nữ lang Trong cổ nhạc Phủ 《Từ Mộc Lan》 có câu “同行十二年,不知木兰是女郎”. Mang ý chí “nam nhi trong thân nữ” và là cách gọi thay cho các cô gái trẻ. Cân quốc Có nguồn gốc từ 《Sách Tấn》, là vật trang trí trên đầu phụ nữ thời cổ, dùng để đại diện cho nữ giới. Khi ấy, Gia Cát Lượng đánh Ngụy nhiều lần thách thức Tư Mã Ý, bên kia không ra đấu, Gia Cát Lượng liền để lại đồ trang sức của phụ nữ, coi đó là sỉ nhục vì ông không bằng một người phụ nữ. Sau này, người đời thường gọi những anh hùng xuất chúng trong nữ giới là “cân quốc anh hùng”. Nữ sử Chỉ nữ giới có học thức và từng đảm nhiệm chức quan quản lý lễ nghi của hoàng hậu, văn thư, tài liệu trong cung. Quần xà Là trang phục trang trí của phụ nữ cổ đại, là cách gọi chung phụ nữ. Từ này thường xuất hiện trong tiểu thuyết, kịch. Trong chương 1 《Hồng Lâu Mộng》: “Ta anh dũng hào kiệt, thực không bằng người quần xà đó.” “Thục nữ”, chỉ người phụ nữ hiền hòa, tốt bụng và xinh đẹp, thường gặp trong tác phẩm văn học. 《Thơ Kinh·Châu Nam·Quan Quy》: “关关睢鸠,在河之州。窈窕淑女,君子好逑.” Thiếu nữ tuổi thanh xuân Chỉ phụ nữ đang ở độ tuổi thanh xuân. Mỹ nhân tuyệt đại Chỉ người đẹp vô song thời bấy giờ. Yến Triệu mỹ nhân, mỹ nhân dáng như ngọc; Do đó, những phụ nữ trẻ đẹp hay được gọi là “ngọc nhân”, “bích nhân”, “kiều nhân”, “lệ nhân”, “ngọc nữ”, “giai oa”, “Tây Thi”, “dụ vật”, “thanh nga”, v.v. Tài nữ mọc lông mày Chỉ phụ nữ có tài văn chương. Không chải tiến sĩ Chỉ phụ nữ tài năng xuất chúng. Diệp dâm gợi cảm Chỉ phụ nữ kiêu hãnh, xinh đẹp. Nhuyễn ngọc ôn hương Chỉ phụ nữ trẻ trung, dịu dàng. Đạo phương khổ lý Chỉ phụ nữ bị người bỏ rơi. Tiểu gia bích ngọc Chỉ phụ nữ xinh đẹp nhà tiểu gia. Trong cổ nhạc Phủ 《Bích Ngọc Ca》 có câu: “Bích ngọc tiểu gia nữ, không dám bám theo người có địa vị cao.” Lô Phu Phụ nữ xinh đẹp và trung trinh. Vô diêm Phụ nữ xấu nhưng có đức hạnh.Thiên kim, lệnh nhiên, nữ công tử: cách kính trọng để gọi con gái người khác.
Bích ngọc: “Bích ngọc tiểu gia nữ, không dám bốc cậy quý đức.” (Cổ nhạc phủ 《Bích Ngọc Ca》) “Tây Thi mạn đạo toàn xuân sa, bích ngọc kim nhật đấu Lệ Hoa.” (Vạn Sở 《Vương Nhật Quan *》) “Bích ngọc”, nguyên là để miêu tả dung mạo của phụ nữ, sau đó dùng để chỉ các cô gái gia đình nhỏ có nhan sắc.

Trân quyên: “Nhất đới trang lâu lâm thủy cái, gia gia phân ảnh chiếu trân quyên.” (Khổng Thượng Nhiệm 《Đào Hoa Phiến》) “Trân quyên” chỉ người con gái đẹp.

Hồng phấn: “Kỳ mã yến hí động địa lai, tự mai hồng phấn bạch thành hôi.” (Lý Thương Ẩn 《Mã Vi》) “Ngẫu phát cuồng ngôn kinh mãn tọa, nhị hàng hồng phấn nhất thời hi.” (Đỗ Mộc 《Binh Bộ Thượng Thư Tịch Thượng Tác》) “Hồng phấn” ban đầu chỉ phấn son dùng để trang điểm của phụ nữ, sau dùng để chỉ mỹ nhân.

Hồng tú: “Kim dạ hoàn tiên túy, ưng phiền hồng tú phò.” (Bạch Cư Dị 《Đối Tửu Ngâm》) “Hồng tú ủng môn trì chước tặc, giải lao kim dạ yến hoa đường.” (Hàn Ngạc 《Biên Thượng Khán Liệp Tặng Nguyên Dung》) “Hồng tú” ban đầu chỉ ống tay áo đỏ của phụ nữ, sau dùng để chỉ mỹ nhân ăn mặc lộng lẫy.

Hồng quần: “Trường An chúng phú tử, bàn thiện la tán hủn; bất giải văn tự ẩm, duy năng túy hồng quần.” (Hàn Dự 《Túy Tặng Trương Bí Thư》) “Hồng quần” ban đầu chỉ váy của phụ nữ, cũng dùng để chỉ phụ nữ.

Hồng nhan: “Thống khóc lục quân cụ cáo tố, xung quan nhất nộ vi hồng nhan.” (Thanh? Ngô Vĩ Nghiệp 《Viên Viên Khúc》) “Hồng nhan” ban đầu chỉ dung nhan mỹ lệ của phụ nữ, sau dùng để đại diện cho mỹ nhân.

Hồng lâu: “Trường An xuân sắc bản vô chủ, cổ lai tận thuộc hồng lâu nữ.” (Lý Bạch 《Thị Tòng Nghĩ Xuân Viện Phụng Chiếu Phú》) “Hồng lâu” nguyên chỉ nơi ở của ca nữ thời cổ, sau dùng để đại diện cho phụ nữ.

Hồng trang: “Chỉ ức dạ thâm hoa thụy khứ, cánh thiêu cao chước chiếu hồng trang.” (Tô Thức 《Hải Đường》) Hồng trang ban đầu chỉ việc trang điểm của phụ nữ thời cổ, sau dùng để chỉ mỹ nhân.

【Giới thiệu kiến thức về cách gọi theo độ tuổi khác nhau của nam nữ thời cổ】
Từ xưa đến nay, nước ta đối với các độ tuổi sơ sinh, trẻ, thiếu niên, thanh niên, trưởng thành, trung niên, và người già đều có những cách gọi thật sự nhiều loại, tao nhã và thú vị. Chưa tròn một tuổi——Băng bồng  2~3 tuổi——Trẻ thơ
 Con gái 7 tuổi——Tuổi tóc tết  Con trai 8 tuổi——Tuổi tóc búi
 Thời thơ ấu gọi chung——Tổng giác  Dưới 10 tuổi——Miệng vàng
 13~15 tuổi——Tuổi múa muỗng  15~20 tuổi——Tuổi múa ngà
 12 tuổi (nữ)——Tuổi trâm vàng  20 tuổi (nam)——Thiếu冠
 13 tuổi (nữ)——Tuổi tơ non  15 tuổi (nữ)——Tuổi cột tóc
 16 tuổi (nữ)——Tuổi quả dưa non, tuổi ngọc bích 20 tuổi (nữ)——Tuổi đào李
 24 tuổi (nữ)——Tuổi hoa tín  Đến lúc xuất giá——Tuổi mai
 Đến 30 tuổi (nữ)——Nửa già徐娘  30 tuổi (nam)——Tuổi lập
 40 tuổi (nam)——Tuổi không nghi, tuổi cường tráng  50 tuổi——Tuổi quá nửa thế kỷ, tuổi biết sai, tuổi biết mệnh, tuổi mặc áo thuốc, tuổi đại diễn
 60 tuổi——Tuổi hoa giáp, đầu bằng giáp子, tuổi thuận thính, tuổi chống gậy về quê
 70 tuổi——Tuổi cổ kỳ, tuổi chống gậy quốc, tuổi lui về nghỉ việc, tuổi lui về chính sự
 80 tuổi——Tuổi chống gậy triều đình  80~90 tuổi——Tuổi lão nhược
 90 tuổi——Tuổi lưng còng  100 tuổi——Tuổi kỳ y
【Các tên gọi tuổi tác trong thời cổ đại】
 Tổng giác: chỉ thời thơ ấu.
 Nguồn từ "Thi Kinh", ví dụ trong "Thi/Phong vệ/Mang" “Tổng giác chi yến”, còn có trong "Phong Tề/Phủ Điền" “Tổng giác hề”. Sau này gọi tuổi thơ là “Tổng giác”. Tào Viên Minh "Vinh Mộc" tựa thơ: “Tổng giác văn đạo, bạch thủ vô thành.”
 Thủ tiêu: chỉ thời thơ ấu.
 Xưa kia trẻ chưa đội mũ, tóc rủ xuống, vì vậy lấy "thủ tiêu" để chỉ thời thơ ấu. Bành Nhạc "Kê Điền phú": “Bị hắc chấn cư, thủ tiêu tổng phát.”
 Thúc phát: chỉ thanh thiếu niên.
 Thông thường chỉ khoảng 15 tuổi, lúc này nên học các kỹ năng. "Đại Đái Lễ Ký/Bảo Phù": “Thúc phát nhi tự đại học, học đại nghệ diên, lữ đại tiết diên.”
 Cấp cơ: chỉ nữ 15 tuổi.
 Trong "Lễ Ký/ Nội tắc" nói “nữ tử... thập hữu ngũ niên nhi cơ”. “Cơ”, chỉ buộc tóc và dùng ghim cài, biểu thị đã đến tuổi xuất giá.
 Đãi niên: chỉ nữ đã trưởng thành chờ lấy chồng, còn gọi là “Đãi tự”. Câu trích từ 《Hậu Hán Thư / Kỷ Hoàng Hậu Cao》: “Tiểu giả đã đến tuổi chờ nước.” Từ đó trở đi, tuổi của nữ giới chờ kết hôn được gọi là “tuổi chờ”. 《Văn tuyển / Văn Chiêu Hoàng đế Tuyên Hoàng Hậu Ai sách văn》: “Kể từ tuổi chờ, âm thanh vàng đã vang lên sớm.”

Nhược quan: chỉ nam giới 20 tuổi.

Câu trích từ 《Lễ ký / Khúc lễ thượng》: “Hai mươi gọi là nhược, cài mũ.” Ở thời xưa, nam giới 20 tuổi làm lễ cài mũ, biểu thị đã trưởng thành. Tả Tư trong 《Yếm sử》, một bài thơ: “Nhược quan nổ lực thư mềm, nhãn lộ quan quần thư.”

Nhi lập: chỉ 30 tuổi.

Câu trích từ 《Luận ngữ / Vi chính》: “Ba mươi mà lập.” Sau này gọi tuổi 30 là “nhi lập”. 《Liêu trai chí dị / Tăng Trường Thanh》: “Hữu nhân thỉnh tới hương, kính tạo chi, thấy con người thầm nhiên thành đức, tuổi chỉ nhi lập.”

Bất hoặc: chỉ 40 tuổi.

Câu trích từ 《Luận ngữ / Vi chính》: “Bốn mươi mà bất hoặc.” Sau này dùng “bất hoặc” làm cách gọi tuổi 40. Ứng Cúc trong 《Đáp Hàn Văn Hiến thư》: “Tuổi của hạ, vừa ở bất hoặc.”

Ái: chỉ 50 tuổi.

Câu trích từ 《Lễ ký / Khúc lễ thượng》: “Năm mươi gọi là ái.” Người già tóc bạc như cỏ ái. 《Dân quốc thông tục diễn nghĩa》 chương 37: “...Tôi tuổi đã đến ái, còn có gì không hài lòng nữa?”

Hoa cáo: chỉ 60 tuổi.

Được gọi theo cách đặt tên kết hợp giữa thiên can địa chi.
hồi đáp 🤍 0 📤 chia sẻ sưu tầm
Bạn thật phóng đại!!
Không đến mức đó đâu, sau này nếu tôi cũng cần dùng, sẽ sao lưu.
Không nói nhiều… đang đi qua…
— Đã tải tất cả câu trả lời —

Để lại một câu trả lời