[Mười loại độc cổ xưa hàng đầu] ★1. Duanchangcao là cây nho hàng năm thuộc họ nho bầu. Chất độc chính của nó là alkaloid từ cây bầu. Theo ghi chép, sau khi nuốt vào, ruột trở nên đen và dính, gây đau bụng dai dẳng và tử vong. Phương pháp giải độc phổ biến là rửa dạ dày, lấy tro than, sau đó dùng nước kiềm và thuốc nôn. Sau khi rửa, nhanh chóng nấu đậu xanh, kim ngân và cam thảo gạo để giải độc. Duanchangcao—còn gọi là Leiteng (từ Bách khoa toàn thư Y học Trung Quốc). Đậu xanh, kim ngân và cam thảo thực ra là những chất giải độc phổ quát, cũng như thân vải và sữa đậu nành sống. Leigongteng mọc ở rìa rừng núi râm mát, ẩm ướt. Phân bố ở phía nam lưu vực sông Dương Tử và các vùng phía tây nam. Rễ thu hoạch vào mùa Thu, lá vào mùa hè, hoa và quả vào mùa hè và mùa thu. ★2. Truyền thuyết kể rằng zhen là một loài săn mồi huyền thoại, lớn hơn cả đại bàng và có tiếng kêu chói tai. Lông của nó rất độc; ngâm lông trong rượu sẽ biến rượu thành rượu có độc, rất độc và gần như không thể chữa khỏi. Theo thời gian, rượu có độc trở thành thuật ngữ chung cho rượu có độc. Một lời giải thích khác: zhen không phải là loài săn mồi huyền thoại; nó thực sự tồn tại, cụ thể là đại bàng ăn rắn, một loài săn mồi nhỏ phân bố rộng rãi ở các vùng núi phía nam như núi Wudang. Vì nó ăn rắn, người ta nhầm tưởng nó rất độc. Một giả thuyết khác cho rằng zhen là loài chim hiếm chưa biết đến đã bị săn bắt hoàn toàn. ★3. Rùa gỗ ngoại lai là strychnych, hạt giống của Strychnoszkin và Yunnan strychnch. Dẹt hoặc hình bầu dục, đường kính 1,5~3cm, dày 0,3~0,6cm. Thường nâng một bên và hơi lõm bên kia, phủ đầy lông. Viền hơi nhô lên và dày, với một chấm chấm ở trung tâm gốc, kết cấu cứng. Các thành phần độc hại chính là Strychnine (C21H22O2N2, còn gọi là tutinine) và Brucine (C23H26O4N2). Chủ yếu dùng cho viêm khớp cứng đầu, tê liệt và liệt, chấn thương brucian, áp xe, sưng và đau; Sau khi bị bại liệt, đau khớp thấp khớp, và được cho là dùng cho bệnh nhược cơ nặng (myasthenia gravis). Triệu chứng đầu tiên của ngộ độc bao gồm đau đầu, chóng mặt, cáu gắt, thở nhiều hơn, chuột rút cơ, khó nuốt, thở tệ hơn, đồng tử co lại, đầy ngực, khó thở và cảm giác căng thẳng chung. Sau đó, cơ duỗi và cơ gập co lại cực kỳ đồng thời, gây nhạy cảm quá mức với thính giác, thị giác, vị giác và cảm giác, tiếp theo là co giật Tudening điển hình, và cuối cùng là cứng cơ hô hấp dẫn đến ngạt thở và tử vong.Phương pháp giải độc là sử dụng thuốc ức chế trung ương để ngăn chặn co giật, như natri amian, natri thiopental hoặc tiêm tĩnh mạch diazepam. Sau đó rửa dạ dày, rồi dùng cam thảo, đậu xanh, phòng phong, minh đằng, thanh đài (uống giải) và gừng tươi với lượng vừa đủ, sắc uống từng ngày 4 liều liên tiếp.
★4. Hạc đỉnh hồng: Thịt hạc, xương hạc và não hạc có thể dùng làm thuốc, nhưng đều không có độc tính, và đều là thuốc bồi bổ tăng cường. Hạc đỉnh hồng thực chất là thạch tín đỏ. Thạch tín đỏ là một loại khoáng vật tự nhiên của asen trioxide, sau khi chế biến sẽ trở thành loại thạch tín nổi tiếng. “Hạc đỉnh hồng” chỉ là cách nói khéo léo về thạch tín từ thời xưa. Khi asen vào cơ thể, nó sẽ kết hợp với nhóm sunfua trong protein, làm protein biến tính mất hoạt tính, có thể ngăn chặn con đường cung cấp năng lượng oxy trong tế bào, khiến cơ thể nhanh chóng thiếu năng lượng ATP và tử vong, cơ chế tương tự như cyanide.
★5. Thạch tín tự nhiên có thành phần hóa học As₂O₃, hệ tinh thể lập phương, tinh thể lục bát diện tứ diện. Hình dạng tinh thể đơn là bát diện, cũng có dạng lục thập diện. Tập hợp có dạng sao, dạng vỏ, dạng lông, dạng đất, dạng nhũ. Màu trắng đôi khi pha xanh trời, vàng, đỏ, cũng có màu không màu, vết bột trắng hoặc vàng nhạt. Ánh sáng từ thủy tinh đến kim cương, cũng có ánh dầu mỡ hoặc lụa. Độ cứng theo thang Mohs 1,5, tỷ trọng 3,73–3,90, phân giải hoàn toàn, mặt gãy dạng vỏ sò, giòn, tan trong nước, rất độc.
★6. Phì thạch là sản phẩm chế biến từ khoáng vật chứa asen tự nhiên như asen hoa, thạch đỏ hay hoàng thổ. Còn được gọi là tín thạch. Chủ yếu sản xuất tại Giang Tây, Hồ Nam, Quảng Đông, Trạch Châu, v.v. Thị trường phân loại thạch đỏ và thạch trắng, dùng làm thuốc chủ yếu là thạch đỏ. Mọi phì thạch cần đóng vào lọ cát, bịt kín miệng bằng đất sét, nung trong lò cho đỏ, lấy ra để nguội, hoặc nấu cùng đậu xanh để giảm độc tính. Nghiền thành bột mịn để dùng. Sản phẩm tinh chế của phì thạch qua quá trình thăng hoa là bột trắng, tức thạch tín, độc tính càng mạnh.
★7. Kim cương có đặc tính kỵ nước và ưa dầu, khi người ăn bột kim cương, bột sẽ bám vào thành dạ dày, lâu dài ma sát sẽ gây loét dạ dày, nếu không điều trị kịp thời sẽ tử vong do chảy máu dạ dày, là loại độc mạn khó phòng tránh. Thời kỳ Phục hưng, bột kim cương dùng làm thuốc độc mạn từng phổ biến trong các gia đình giàu có ở Ý.
★8. Lài nhụy hay còn gọi là đào lá liễu, có độc, chứa glycosid tim độc, tác dụng giống như địa hoàng, khô 3g đã có thể gây chết người.
Triệu chứng chính là biểu hiện ngộ độc giống địa hoàng.Buồn nôn, nôn mửa, đau bụng, tiêu chảy; rối loạn nhịp tim, nhịp tim chậm, không đều, cuối cùng xuất hiện rung thất, ngất xỉu, co giật, hôn mê, hoặc nhịp tim nhanh, loạn nhịp ngoại vị, tử vong do suy tuần hoàn. ★9. Ô đầu, thuộc họ Mao lăng, là thực vật thân thảo sống nhiều năm. Cây cao 60-120cm, lá mọc so le, dạng da, hình bầu dục, chia ba thùy, mỗi thùy lại chia 2, thùy giữa lại chia 3, mép có khía. Ngù hoa chùy gồm 5 lá đài, 2 cánh hoa, quả hình bầu dục dài, hoa nở tháng 6-7, quả tháng 7-8. Phân bố ở Liêu, Dữu, Lỗ, Cam, Thiểm, Chiết, Cảnh, Hoài, Tương, Ngạc, Xuyên, Điền, Quý. Tên ô đầu thường chỉ ô đầu Thục, còn có ô đầu thảo, thường chỉ loại ô đầu hoang và các loài khác cùng chi, ví dụ ô đầu Bắc (Lan ô lạ hoa), Thái Bạch ô đầu (Kim ngưu thất), là các tên gọi trong y học cổ truyền Trung Quốc. Ô đầu chứa nhiều loại alcaloid, như aconitine, neoaconitine, mesaconitine, heteratisine A, heteratisine B (kamishallin), taranine, v.v. ★10. Kiến huyết phong hầu còn gọi là “mộc tên độc”, “cây kéo”, là thực vật quý hiếm được bảo vệ quốc gia, là một trong những loài thực vật độc nhất thế giới. Nhựa cây màu trắng sữa, cực độc. Nếu nhựa vào máu qua vết thương, có nguy cơ nguy hiểm đến tính mạng. Người xưa thường bôi lên mũi tên để bắn thú hoặc kẻ thù. Giết nhanh. Có nguồn gốc từ Đông Nam Á. Ở Trung Quốc có thể thấy ở Hải Nam, vườn thực vật Tây Song Bản Nạp. 【Mức độ ngộ độc】 Cấp 6 Cực độc Dưới 5mg/kg Dưới 7 giọt Cấp 5 Vô cùng độc 5-50mg/kg 7 giọt đến 1 muỗng Cấp 4 Rất độc 50-500mg/kg 1 muỗng đến 1 ounce Cấp 3 Độc 0,5-5g/kg 1 ounce đến 1 pint hoặc 1 pound Cấp 2 Nhẹ độc 5-15g/kg 1 pint đến 1 quart Cấp 1 Nhẹ 15g/kg trở lên 1 quart hoặc hơn 2,2 pound