Hải Nam đẹp
Chúng ta cũng hòa vào không khí sôi động một chút. Nhà thơ nổi tiếng của thời Tống, Tô Đông Pha, từng để lại hạt mầm thơ ca trên đảo Hải Nam, vì vậy được người đời sau ở đảo Hải Nam kính trọng và yêu mến. Trong "Kỷ sự lục của Khánh Đài" có chép: “Công Tư Văn Trung Quân Tống Tô bị đày đến Đạm Nhi, giảng học minh đạo, dạy dỗ mọi người ngày càng phát triển, văn hóa con người ở Khánh Châu thịnh vượng thực sự nhờ công của ông mà mở ra.” Nên nói rằng sự phát triển của thơ ca ở Hải Nam cũng có công của Đông Pha tiên sinh. Đảo Hải Nam đầy nắng, làm làn da người khởi nghiệp trở nên rám nắng, thúc đẩy thảm thực vật nhiệt đới phát triển tươi tốt, bốc hơi sức sống từ từng phố phường và làng mạc nơi đây từng ngày nóng bỏng và tràn đầy đam mê. Ánh nắng khiến ký ức sâu thẳm của chúng ta trào dâng nhiệt huyết và rực rỡ, trào dâng một loại văn học phát ra hơi thở của ánh nắng. Dưới ánh nắng như thế, thơ ca Hải Nam cũng như cỏ dại, phát triển tươi tốt, dáng vẻ phong phú đa dạng. Có cảm giác như đi trên đường núi u tối, nơi nào cũng là cảnh đẹp. Kể từ những năm 1990 của thế kỷ 20, thi đàn dần trở nên ảm đạm, những luận điệu về “sự suy tàn của thơ ca” ngày càng nổi bật. Thật ra, công chúng quen với vẻ sôi động bề ngoài không biết rằng, thơ ca không còn thu hút sự chú ý nhiều hơn là vì nó đã mất đi tính công diễn như trước, thực tế thơ ca từ những năm 1990 đang trải qua một cơn đau, một sự điều chỉnh và tích lũy. Thơ ca ngày nay, lý do tồn tại chưa bao giờ thuần túy và sâu sắc như bây giờ—nó không chỉ tránh xa mối quan hệ “thân thiện” với ý thức hệ mạnh mẽ, mà còn tách ra khỏi quá trình xã hội hàng hóa (điều này cũng là bất đắc dĩ). Thơ hình thức siêu hình—thơ bị thế giới vật hóa phân loại hiệu quả, trở về bổn phận, trở thành “vấn đề cá nhân”, trở thành đời sống nội tâm kinh điển, trở thành bí sử kiên nhẫn. Do đó, thơ ngày nay cũng nâng lên thành một niềm tin hoặc biểu tượng, một năng lực tinh thần bất diệt: đại diện cho cái đẹp, tưởng tượng, lòng trắc ẩn và tình yêu. Các nhà thơ Hải Nam luôn sáng tác trong cô đơn, hòn đảo cắt đứt mật độ giao lưu văn hóa với trung nguyên, nhưng không cắt đứt tình yêu với thơ ca của họ. Như nhà thơ Khổng Kiến đã viết: “Người đàn ông lang bạt nhiều năm / Nhìn thấy có nơi trú ẩn / Nhưng tôi lại được báo / Đây chỉ là căn nhà trống / Chưa bao giờ có ai cư ngụ /.” Trong những câu thơ như vậy, tác giả bày tỏ một cách chân thực mối quan hệ của nhà thơ thời biến đổi với hoàn cảnh thời đại, mang một chiều sâu và cường độ tinh thần khiến người ta xúc động.Còn bài thơ 《Xin lỗi tôi phải cáo lui – Viết cho anh H ẩn dật》, so với việc coi đó là một bài ca tưởng niệm lý tưởng nào đó, thì đúng hơn là nhà thơ đã tìm thấy một cơ hội từ đối tượng mà ông đối thoại, nhờ đó ông có thể suy ngẫm sâu hơn về sứ mệnh thơ ca dưới áp lực và tâm trạng tinh thần của thời đại. Bản thân nhà thơ từng nói: "Tôi hy vọng mình viết bằng tâm hồn, ngay cả khi mở ra thân xác, cũng không làm mất phương hướng tinh thần, giảm bớt chiều kích tồn tại." Có thể nói thơ của Khổng Kiến là một loại thơ mang theo một triết lý nào đó, nó thể hiện sự nắm bắt mô tả nghệ thuật về bản chất cuộc sống của nhà thơ, từ triết lý đi tới chiều sâu của vẻ đẹp sự vật. Mầm non ở miền Bắc nảy chồi non, rừng dừa Sanya nhảy múa theo gió. Quan Âm đứng tại Đại Tiểu Động Thiên, khắp núi dưới Ngũ Chỉ Sơn đầy hoa. Đứng bên tháp biển, nhìn chân trời, làn sóng xanh mênh mông phản chiếu hoàng hôn. Một trụ trời Nam đứng đối gió, cửa biển hùng vĩ nghênh tiếp khách phương xa.
Trả lời (5)
LZ đến từ tận cùng trời biển?
Tôi là người Hải Nam, không có gì để bàn, làm cho xong đi
Tôi đến từ huyện Đàm Nhĩ, chính là nơi học giả Tô giảng đạo, bây giờ gọi là Đàm Châu
Thật trùng hợp, đây là 'phân vượn'
Đừng nói nữa, Phúc Kiến là tốt nhất
— Đã tải tất cả câu trả lời —