Joseph Smith dự đoán chiến tranh tận thế? Theo Kinh Thánh, sau khi Chúa xuất hiện, Ngài sẽ phán xét muôn dân, tất cả con cái của Chúa sẽ nhận được ân huệ của Ngài và theo Ngài vào thiên đường. Tuy nhiên, về cảnh tượng thế giới trước khi Chúa xuất hiện, các giáo hội Kitô khác nhau đều có những lời tiên tri riêng. Trong đó, lời tiên tri của Giáo hội Mormon đặc biệt thu hút sự chú ý, vì người sáng lập của nó, Joseph Smith, từng tiên đoán rằng trước khi Chúa Giêsu Kitô tái xuất, thế giới sẽ xảy ra cuộc đại chiến giữa thiện và ác và dẫn đến sự xuất hiện của ngày tận thế. Giáo hội Mormon được thành lập vào năm 1830, do Joseph Smith sáng lập. Khi mới thành lập, giáo hội chưa có tên chính thức, cho đến năm 1838, Joseph Smith nhờ sự mặc khải mà chính thức đặt tên giáo hội là 'Giáo hội các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giêsu Kitô'. Họ đại diện cho giáo hội nguyên thủy được các tông đồ của Chúa Giêsu Kitô thành lập vào thế kỷ I, đồng thời họ tự coi mình là Kitô hữu, vì giáo hội tin rằng Chúa Giêsu Kitô là Con Một của Thiên Chúa, cũng là Đấng Kitô và Đấng Messiah (Đấng Cứu Thế) được các tiên tri trong Cựu Ước tiên tri, họ lấy giáo huấn và sự cứu rỗi của Chúa Giêsu Kitô làm trung tâm. Vì thời gian thành lập muộn, thuận tiện để phân biệt với các giáo hội khác của Chúa Giêsu Kitô, nên gọi là 'Giáo hội các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giêsu Kitô', chỉ có bản dịch sang tiếng Trung mới gọi là Giáo hội Mormon, thực ra tên gọi này không chính xác. Những người Mormon tin rằng Chúa Giêsu Kitô là Đấng cứu thế cá nhân của họ, họ nỗ lực bắt chước Chúa trong đời sống và vâng theo giáo huấn của Ngài. Trong các buổi thờ phượng ngày Chủ Nhật, họ tưởng nhớ sự hy sinh cứu chuộc của Chúa, cách làm này giống như lễ Thánh Thể ở các giáo hội khác. Những ai tin rằng Chúa Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa và là Đấng cứu rỗi toàn nhân loại, họ đều được coi là bạn Kitô hữu. Nhiều Kitô hữu không hiểu rằng thực chất giữa họ có nhiều điểm tương đồng. Joseph Smith dạy đệ tử: Chúa Giêsu Kitô là trung tâm đức tin của chúng ta, tất cả những thứ khác chỉ là phần phụ. Niềm tin cốt lõi của Mormon khác với đức tin Kitô ở điểm Mormon tin rằng Joseph Smith nhỏ là tiên tri của Thiên Chúa, giống như Môi-se, nhận mặc khải và các kinh văn từ Thiên Chúa. Mặc khải đầu tiên Joseph Smith ghi chép (xem Thần thị lần thứ nhất) nói rằng giáo hội do các tông đồ thành lập đã không tồn tại sau Cuộc Đại Phán Xét. Joseph Smith nói rằng các mặc khải tiếp theo chỉ dẫn ông tổ chức tái lập giáo hội của Chúa Giêsu Kitô và truyền giáo ra toàn thế giới.Ngày nay, tín đồ Mormon tin rằng giáo hội của họ có quyền lực giống như giáo hội mà Chúa Giêsu đã xây dựng, các tông đồ kế thừa là tiên tri, và mặc khải vẫn tiếp tục liên tục. Chính vì lý do này, sự tiên tri chiếm vị trí quan trọng trong đạo Mormon. Người sáng lập của họ, Joseph Smith, vào tháng 2 năm 1835 đã triệu tập các lãnh đạo giáo hội họp, tuyên bố rằng ông nhận được sự chỉ dẫn từ Chúa. Chúa cho ông biết Chúa Giêsu Kitô sẽ trở lại thế gian trong vòng 56 năm, và trước đó sẽ nổ ra trận chiến giữa thiện và ác dẫn đến tận thế. Nhiệm vụ hiện tại của họ là chuẩn bị cho sự trở lại của Chúa Giêsu, tham gia phe thiện trong trận chiến thiện ác, và chờ đợi ân sủng của Chúa Giêsu. Không may, vào năm 1847, Joseph Smith bị giết. Và tận thế năm 1891 mà Joseph Smith tiên tri đã không xảy ra, trận chiến thiện ác cũng không diễn ra. "The New York Times" đưa tin về sao chổi Halley sẽ hủy diệt trái đất. Nhắc đến sao chổi Halley, mọi người không cảm thấy xa lạ, đây là sao chổi lớn đầu tiên được dự đoán sẽ quay trở lại và được xác nhận. Về phát hiện sao chổi Halley, còn có một câu chuyện như sau: Năm 1680, Halley khi đi du lịch ở Pháp đã nhìn thấy sao chổi sáng nhất từ trước đến nay. Tháng 8 năm 1682, trên bầu trời lại xuất hiện một sao chổi sáng có thể nhìn thấy bằng mắt thường, phía sau kéo theo một đuôi cong rõ ràng. Sự xuất hiện của sao chổi này đã thu hút sự chú ý của hầu hết các nhà thiên văn học, lúc đó, nhà thiên văn học người Anh 26 tuổi Halley đặc biệt quan tâm đến sao chổi này. Ông quan sát kỹ, ghi chép vị trí của sao chổi và sự thay đổi từng ngày của nó trên bầu trời. Sau một thời gian quan sát, ông ngạc nhiên phát hiện ra sao chổi này dường như không phải là vị khách mới lần đầu đến Trái đất, mà giống như một người bạn cũ đã quen. Halley thông qua việc tra cứu tư liệu, phát hiện các năm 1607, 1531, 1456, 1378, 1301, 1245, và đến năm 1066, trong lịch sử đều có ghi nhận sự xuất hiện của các sao chổi lớn. Sau khi tính toán, Halley cho rằng những sao chổi này nên là cùng một sao chổi, chỉ là nó sẽ quay trở lại hệ Mặt Trời định kỳ.Năm 1705, Halley công bố "Luận văn Thiên văn về Sao chổi", thông báo rằng sao chổi khổng lồ xuất hiện vào năm 1682 sẽ lại xuất hiện trên bầu trời vào năm 1758. Sau đó, ông ước tính rằng Sao Mộc có thể ảnh hưởng đến chuyển động của sao chổi, nên đã trì hoãn ngày trở lại đến năm 1759. Nói cách khác, sau 54 năm nữa, sao chổi khổng lồ này sẽ lại xuất hiện trên bầu trời. Lúc đó, nhiều người coi những dự đoán của Halley là vô lý, cho rằng đó chỉ là những lời nói bạt nhạp của ông. Tuy nhiên, vào Giáng Sinh năm 1758, một nông dân yêu thích thiên văn gần Dresden, Đức đã tiên phong phát hiện sao chổi trở lại. Ngày 21 tháng 1 năm 1759, nhà thiên văn học Messier ở đài thiên văn Pháp cũng phát hiện ra sao chổi này. Sự thật đã chứng minh, dự đoán của Halley hoàn toàn chính xác. Để tưởng nhớ đóng góp vĩ đại của Halley trong việc dự đoán sao chổi, người ta đã đặt tên sao chổi khổng lồ này là Sao chổi Halley.
Kể từ đó, nghiên cứu sao chổi trở thành một lĩnh vực thu hút sự quan tâm trong thiên văn học, nhiều nhà thiên văn học đã tham gia nghiên cứu về sao chổi. Cùng với sự tiến bộ của khoa học, phương pháp nghiên cứu sao chổi trở nên đa dạng hơn, trong đó có việc ứng dụng quang học. Năm 1881, một nhà thiên văn học đã phát hiện ra thông qua phân tích phổ rằng đuôi sao chổi Halley chứa khí độc cyanide. Lúc đó, phát hiện này chỉ làm tăng sự quan tâm của mọi người, không ai nhận ra có điều gì bất thường. Tuy nhiên, bài báo về Sao chổi Halley của "New York Times" đã khiến người dân lúc bấy giờ hoảng sợ!
Ngày 13 tháng 5 năm 1910, Sao chổi Halley – các nhà thiên văn tính toán rằng sao chổi Halley sẽ đạt điểm cận nhật vào ngày 20 tháng 5 năm 1910, khi ở gần Trái Đất nhất chỉ cách 25 triệu km. "New York Times" đưa tin đuôi sao chổi sẽ quét qua Trái Đất, khí độc sẽ bao trùm toàn bộ hành tinh, con người sẽ phải sống trong loại khí độc chết người này trong vài tháng, và lúc đó không ai có thể sống sót, bao gồm tất cả sinh vật.
Bài báo của "New York Times" được các báo khác của Hoa Kỳ dẫn lại và lần lượt đưa ra dự đoán riêng của họ. Ngay lập tức, một làn sóng hơi sợ hãi lan khắp nước Mỹ, người dân lập tức rơi vào hoảng loạn tập thể, mọi người vội vàng truyền tin cho nhau: Ngày tận thế của nhân loại đã đến!
Do đó, trước đó họ tận hưởng cuộc sống một cách vô tư, không ngại phá sản. Thậm chí, có người còn nhảy lầu tự tử vào ngày trước khi sao chổi đến.Vào chiều tối ngày 19 tháng 5 năm 1910, bầu trời xuất hiện một cảnh tượng kinh ngạc: trong đêm tối ít sao, một cụm sao chói lọi từ chân trời lao thẳng lên bầu trời, nó kéo theo đuôi sáng rực dài di chuyển từ tây sang đông, như thể một "chổi trời" khổng lồ đang quét sạch bầu trời đêm. Vài giờ sau, sao chổi Halley lại rời đi. Không chỉ loài người không bị hủy diệt, các sinh vật khác trên Trái Đất cũng không bị ảnh hưởng gì, có thể nói rằng tiên đoán "ngày tận thế" hoàn toàn là sự lo lắng vô ích.